báo gia đình, ẩm thực, dịch vụ xe, kênh giải trí, mẹ và bé, giá xe ô tô, giá xe máy, du lịch, phun xăm thẩm mỹ, mua xe cũ, xu hướng làm đẹp, Mỹ phẩm, Mỹ phẩm Nhật, Báo asahi, Thắt lưng, Làm bác sĩ, Mỹ phẩm Nhật Bản, Sức khỏe, Làm đẹp dưỡng da, Dinh dưỡng sức khỏe
Trang chủ Bài văn hay ĐỀ THI THỬ THPT 2019 - MÔN NGỮ VĂN (Đề số 4)
ĐỀ THI THỬ THPT 2019 - MÔN NGỮ VĂN (Đề số 4)
Thứ năm, 20 Tháng 6 2019 11:55

ĐỀ THI SỐ 4

 

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM HỌC 2019 – 2020

LẦN THỨ IV

MÔN THI: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu ở bên dưới:

            Thực tế cho thấy,người thành đạt chỉ có 25% là do những kiến thức chuyên môn, 75% còn lại được quyết định bởi những kỹ năng mềm họ được trang bị. Khi bước vào nghề, một nhân viên thiếu các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng bán hàng, làm việc nhóm, quản lý thời gian, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng lập kế hoạch… là một hạn chế khiến họ khó có thể hòa đồng và tồn tại lâu..

          Hầu hết các nhà quản lý và nhà tuyển dụng đều than phiền nhân viên trẻ thiếu và rất yếu về kỹ năng mềm, đa số không đáp ứng được yêu cầu công việc dù họ có bằng cấp rất tốt… Họ cho rằng 80% sự thành công của một cá nhân là nhờ vào kỹ năng mềm chứ không phải kỹ năng cứng (kiến thức chuyên môn). Song thực tế, việc đào tạo kỹ năng mềm trong nhà trường hiện nay vẫn còn bỏ ngỏ, trong khi đó nhiều sinh viên cũng chưa ý thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của kỹ năng mềm.

            Trước nhu cầu phát triển, hội nhập của Việt Nam với thế giới kinh tế tri thức, với kỷ nguyên internet đã giới hạn địa lý, giới hạn dân tộc ngày càng thu hẹp. Trong thời đại làng toàn cầu, công dân toàn cầu, những kĩ năng mềm (kỹ năng sống) như giao tiếp, làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình, chấp nhận sự khác biệt, ứng xử đa văn hoá,…càng trở thành hành trang không thể thiếu với bất cứ một người nào, đặc biệt là giới học sinh, sinh viên - nguồn tài nguyên quan trọng nhất để phát triển đất nước.

                                                (Khoá học kỹ năng mềm, nguồn: Cuocsongdungnghia.com)

Câu 1. (0.5 điểm) Trong đoạn trích, theo tác giả, kĩ năng cứng, kĩ năng mềm được hiểu là gì ?                                             

Câu 2. (0.5 điểm) Vì sao trong đoạn trích, tác giả cho rằng: giới học sinh, sinh viên nguồn tài nguyên quan trọng nhất để phát triển đất nước?

Câu 3. (1.0 điểm) Anh/chị hãy nêu tác dụng của kĩ năng mềm đối với mỗi người trong cuộc sống?  

Câu 4. (1.0 điểm) Anh/chị có đồng ý với ý kiến “việc đào tạo kỹ năng mềm trong nhà trường hiện nay vẫn còn bỏ ngỏ” không? Vì sao?   

 

II. PHẦN LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1. (2.0 điểm)

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về một kĩ năng mềm mà anh/chị cho là cần thiết nhất trong cuộc sống của mình.

Câu 2. (5.0 điểm)

            Trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, có hai lần nhà văn miêu tả hình ảnh bờ sông Đà. Lần đầu là bằng những câu văn:

            Hùng vĩ của Sông Đà không phải chỉ có thác đá. Mà nó còn là những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ đúng lúc ngọ mới có mặt trời. Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia. Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện.

            Lần thứ hai là ở một góc nhìn khác:

Thuyền tôi trôi trên sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lý đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích ngày xưa.

            Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của hình tượng sông Đà thông qua 2 đoạn văn bản trên, từ đó làm rõ lối văn độc tấu của Nguyễn Tuân.

 

ĐÁP ÁN

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

 

ĐỌC HIỂU

3,0

 

1

- Kĩ năng cứng: kiến thức, bằng cấp chuyên môn.

- Kĩ năng mềm: (kĩ năng sống, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng bán hàng, làm việc nhóm, quản lý thời gian, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng lập kế hoạch, chấp nhận sự khác biệt, ứng xử văn hoá….)

0,25

0,25

2

Giới học sinh, sinh viên nguồn tài nguyên quan trọng nhất để phát triển đất nước, Vì:

- Giới học sinh, sinh viên là chủ nhân tương lai của đất nước. Là lực lượng trẻ đông đảo giàu đam mê, khát vọng, nhiệt huyết; giàu sức sáng tạo….

- Họ có điều kiện, cơ hội và cả những thách để trau dồi cho mình hành trang bước vào cuộc sống cả về kĩ năng cứng kĩ năng mềm.

 

 

0,25

 

 

 

0,25

3

HS có thể đưa ra ý kiến của riêng mình về tác dụng của kĩ năng mềm: (kĩ năng mềm có thể khiến có thể khiến con người có khả năng hoà đồng với mọi người và tồn tại lâu dài; tự tin, chủ động; dám thể hiện, khẳng định mình; thành công trong cuộc sống…)

1,0

 

 

 

4

HS có thể lựa chọn 1 trong 2 cách trả lời theo suy nghĩ của bản thân nhưng phải lí giải hợp lí, thuyết phục:

- Đồng tình: Thực tế chưa có bài học, môn học cụ  thể, riêng biệt cho việc việc đào tạo kỹ năng mềm trong nhà trường THPT.

- Không đồng tình: Việc đào tạo kỹ năng mềm trong nhà trường THPT đã được  áp dụng trong các giờ dạy hoạt động  ngoài giờ lên lớp, hướng nghiệp; các buổi ngoại khoá; các giờ học lồng ghép tích hợp ở các bộ môn học….

1,0

II

 

LÀM VĂN

7,0

 

1

NLXH

2,0

 

a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn:

Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo các diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.

0,25

 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Một kĩ năng mềm được cho là cần thiết nhất trong cuộc sống của bản thân mình

0,25

 

c. Triển khai vấn đề nghị luận:

Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần làm rõ một kĩ năng mềm được cho là cần thiết nhất trong cuộc sống của bản thân mình. Có thể theo hướng sau:

 Xuất phát từ năng lực, sở trường, hoàn cảnh của cá nhân để xác định một kĩ năng mềm cụ  thể, cần thiết nhất của bản thân. Từ đó có ý thức học tập, trau dồi kĩ năng để có thể khẳng định mình và thành công trong cuộc sống.

1,0

 

d. Chính tả, dùng từ, đặt câu

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt.

0,25

 

e. Sáng tạo

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

0,25

2

NLVH

5,0

 

a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận:

Mở bài giới thiệu đươc vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài khái quát được vấn đề.

0,25

 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:

Cảm nhận hai đoạn văn Người lái đò sông Đà, từ đó rút ra lối văn độc tấu của Nguyễn Tuân.

0,5

 

c. Triển khai vấn đề nghị luận:

Vẫn dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữ lí lẽ và dẫn chứng.

 

 

* Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm, đoạn trích

0,25

 

* Cảm nhận hai đoạn văn bản

Thí sinh có thể cảm nhận theo nhiều cách nhưng cần đáp ứng các yêu cầu sau:

+ Đoạn 1:

- Nội dung: Đá dựng vách thành, mặt sông chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời. Vách đá chẹt lòng sông như một cái yết hầu... Bờ bãi sông Đà vô cùng hiểm trở dữ dằn với những vách đá dựng đứng, cao hun hút, sự lạnh lẽo u tối của đoạn sông, sự dữ dội của dòng chảy nhỏ hẹp…

- Nghệ thuật: Nhà văn vận dụng nhiều giác quan để quan sát, liên tưởng (thị giác, xúc giác), thay đổi điểm nhìn linh hoạt (từ dưới lòng sông, từ hai bên sờ sông), so sánh tạo mới mẻ bất ngờ (cảm thấy như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên tầng thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện  - so sánh cảm giác của con người trước thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ với một khoảnh khắc của đời sống hiện đại giữa chốn thị thành- ai chưa có dịp được trải nghiệm cảm giác ngội trong khoang đò qua quãng ấy cũng có thể cảm nhận được điều đó trong một hiện thực rất gần với mình ), những câu văn sống động đầy hình ảnh.

+ Đoạn 2:

- Nội dung: Cảnh ven sông lặng tờ, hiền hòa nguyên sơ (như từ đời Lí, Trần, Lê); cảnh vật hai bên bờ sống động, trong  trẻo, tươi non, tràn đầy sức sống: nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa, cỏ gianh đồi núi đang ra nõn búp, đẫm sương đêm, con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương… Bờ sông hoang dại, hồn nhiên đẹp như dòng sông cổ tích:  như một bờ tiền sử, như một nỗi niểm cổ tích tuổi xưa

- Nghệ thuật: Búp pháp lãng mạn chan chứa chất thơ, so sánh độc đáo (So sánh trừu tượng hóa), tạo ra độ gợi cảm thi vị về dòng sông đẹp nguyên sơ hiền hòa, vô cùng kỳ ảo.

2,5

 

 

1,25

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1,25

 

* Khái quát vẻ đẹp hình tượng sông đà và làm rõ lối văn độc tấu của Nguyễn Tuân:

+ Khái quát vẻ đẹp hình tượng sông Đà: SĐ hiện lên với vẻ đẹp đa dạng, trên cả hai khía cạnh hung bạo và trữ tình bởi vì với NT, thiên nhiên cũng là một sản phẩm nghệ thuật vô giá của tạo hóa, cần phải trân trọng và làm phát lộ những vẻ đẹp của nó.Qua hình tượng SĐ, nhà văn muốn kín đáo bộc lộ tình cảm yêu mến tha thiết và mê say với thiên nhiên đất nước.

+ Làm rõ lối văn độc tấu của Nguyễn Tuân:

- Lối văn độc tấu: Phong cách nghệ thuật độc đáo riêng biệt của NT, giống như người nghệ sĩ độc diễn một bản nhạc, NT cũng phô diễn hết cái tôi tài hoa uyên bác của mình ở cả ND và HTNT trong tác phẩm.

- Biểu hiện:  NT luôn khám phá thiên nhiên ở phương diện văn hóa thẩm mĩ độc đáo của nó. Với sông Đà, ông say sưa với vẻ đẹp đa dạng vừa hung bạo khủng khiếp lại vừa trữ tình thơ mộng tuyệt vời. Về nghệ thuật, ông huy động đội quân tiếng Việt hùng mạnh và tinh luyện để làm rõ hai vẻ đẹp của dòng sông. Với sông Đà hung bạo, ông khai thác thứ ngôn ngữ sắc cạnh, gai góc, giàu chất tạo hình, tạo ấn tượng mạnh tới các giác quan. Với một sông Đà nên thơ huyền ào, ông sử dụng ngôn ngữ mềm mại, uyển chuyển, giàu chất thơ chất nhạc làm say đắm lòng người. Đó chính là lối văn độc tấu, là lối chơi ngông trong văn chương của một nhà văn tài hoa uyên bác đến điều.

0,75

 

0,25

 

 

 

 

 

 

0,5

 

d. Chính tả, dùng từ, đặt câu

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt

0,25

 

e. Sáng tạo

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận. (có phần lý giải, đánh giá)

0,5