báo gia đình, ẩm thực, dịch vụ xe, kênh giải trí, mẹ và bé, giá xe ô tô, giá xe máy, du lịch, phun xăm thẩm mỹ, mua xe cũ, xu hướng làm đẹp, Mỹ phẩm, Mỹ phẩm Nhật, Báo asahi, Thắt lưng, Làm bác sĩ, Mỹ phẩm Nhật Bản, Sức khỏe, Làm đẹp dưỡng da, Dinh dưỡng sức khỏe
Trang chủ Bài văn hay ĐỀ THI THỬ THPT 2019 - MÔN NGỮ VĂN (Đề số 3)
ĐỀ THI THỬ THPT 2019 - MÔN NGỮ VĂN (Đề số 3)
Thứ tư, 19 Tháng 6 2019 14:35

ĐỀ SỐ 3

ĐỀ THI THỬ LẦN 1 (2019), MÔN NGỮ VĂN

Thời gian: 120 phút

(Đề thi gồm 02 trang)

I. Đọc hiểu (3 điểm)

Anh/chị hãy đọc văn bản sau đây rồi trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:

            “Có một chiếc đồng hồ ở điện Versailles, Paris, được làm từ 1746 mà đến nay vẫn tiện dụng và hợp thời, đúng nửa đêm 31/12/1999, nó đã gióng chuông và chuyển con số 1 (đeo đuổi trên hai trăm năm) thành con số 2, kèm theo ba số không. Và, "theo tính toán hiện nay, chiếc đồng hồ này còn tiếp tục báo năm báo tháng báo giờ... nghiêm chỉnh thêm năm trăm năm nữa".

Sở dĩ người xưa làm được việc đó, vì họ luôn luôn hướng về một cái gì trường tồn. Duy cái điều có người liên hệ thêm “còn ngày nay, người ta chỉ chăm chăm xây dựng một tòa nhà dùng độ 20 năm rồi lại phá ra làm cái mới” thì cần dừng lại kỹ hơn một chút.

Nếu người ta nói ở đây là chung cho con người thế kỷ XX thì nói thế là đủ. Một đặc điểm của kiểu tư duy hiện đại là nhanh, hoạt, không tính quá xa, vì biết rằng mọi thứ nhanh chóng lạc hậu. Nhưng cái gì có thể trường tồn được thì họ vẫn làm theo kiểu trường tồn. Chính việc sẵn sàng chấp nhận mọi thay đổi chứng tỏ sự tính xa của họ.

   Riêng ở ta, phải nói thêm: trong tình trạng kém phát triển của khoa học và công nghệ một số người cũng thích nói tới hiện đại. Nhưng trong phần lớn trường hợp đó là một sự hiện đại học đòi méo mó, nó hiện ra thành cách nghĩ thiển cận và vụ lợi.

   Không phải những người tuyên bố "hãy làm đi, đừng nghĩ ngợi gì nhiều, bác bỏ sự nghĩ hoàn toàn. Có điều ở đây, bộ máy suy nghĩ bị đặt trong tình trạng tự phát, người trong cuộc như tự cho phép mình "được đến đâu hay đến đấy” “không cần xem xét và đối chiếu với mục tiêu lâu dài rồi tính toán cho mệt óc, chỉ cần có những giải pháp tạm thời, cốt đạt được những kết quả rõ rệt ai cũng trông thấy là đử”. Bấy nhiêu yếu tố gộp lại làm nên sự hấp dẫn đặc biệt của lối suy nghĩ thiển cận, vụ lợi và người ta cứ tự nhiên mà sa vào đó lúc nào không biết” (Vương Trí Nhàn- Nhân nào quả ấy, NXB Phụ nữ, 2005, tr. 93- 94)

Câu 1. Theo tác giả bài viết trên, nguyên nhân nào khiến người xưa tạo nên được những sản phẩm giống như cái chiếc đồng hồ ở điện Versailles?

Câu 2. Đặc điểm của “kiểu tư duy hiện đại” của “con người thế kỉ XX” mà Vương Trí Nhàn chỉ ra là gì?

Câu 3. Tại sao tác giả không tán đồng với một số người “ở ta” khi họ “thích nói tới hiện đại” ?

Câu 4. Theo anh (chị), thói thiển cận khác gì với  đầu óc thực tế ?

 

II. Làm văn

Câu 1 (2 điểm) . Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày ý kiến của anh/chị về bệnh “thiển cận và vụ lợi” trong học tập của học sinh hiện nay.

Câu 2 (5 điểm). Phân tích và chỉ ra sự khác biệt trong những câu thơ sau đây:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

(Quang Dũng- Tây Tiến - SGK Ngữ văn 12,

Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam)

“Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.”

(Tố Hữu- Việt Bắc – SGK Ngữ văn 12, Tập 2,

NXB Giáo dục Việt Nam)

--------------------------Hết-----------------------------

ĐÁP ÁN

  1. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Ý chính cần đạt

Điểm

Câu 1. “Người xưa luôn hướng về sự trường tồn”

 

0,5

Câu 2. “Kiểu tư duy hiện đại” của “con người thế kỉ XX” là: “nhanh, hoạt, không tính quá xa, vì biết rằng mọi thứ nhanh chóng lạc hậu”

0,5

Câu 3. Tác giả không tán đồng với một số người “ở ta” khi họ “nói tới hiện đại” vì “phần lớn trường hợp đó là một sự hiện đại học đòi méo mó, nó hiện ra thành cách nghĩ thiển cận và vụ lợi”

 

 

1,0

Câu 4. Sự khác biệt:

  • “Thói thiển cận” là kiểu suy nghĩ và hành động nông cạn, chỉ nhìn thấy cái gần, cái trước mắt, không biết nhìn xa trông rộng
  • “Đầu óc thực tế” là kiểu tư duy coi trọng những gì thiết thực, hữu ích.
  • Như vậy, hai cách nghĩ và làm trên có điểm gần nhau nhưng khác biệt là khá rõ, nên biết thực tế nhưng không nên sa vào thiển cận.

 

 

1,0

 

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Thí sinh cần bộc lộ được kỹ năng viết đoạn văn nghị luận một cách mạch lạc, chặt chẽ, bày tỏ ý kiến của mình về căn bệnh “thiển cận và vụ lợi” trong học tập của HS hiện nay.

 

                                                       Ý chính cần đạt

 Điểm

  • “Thiển cận và vụ lợi” trong học tập của HS hiện nay là một thực tế với nhiều biểu hiện: chỉ học những môn để thi, tìm mọi cách để có điểm cao, chỉ học những gì có lợi cho mục đích ngắn hạn của mình…
  • Hậu quả: học lệch, tính cách ích kỉ, cách học ấy sẽ dẫn đến lệch lạc trong lối sống trong tương lai…
  • Cần phải thay đổi căn bệnh này từ giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội

 

 

2,0

Câu 2 (3 điểm)

YÊU CẦU CHUNG:

  • Thấy được điểm chung và nét riêng trong cách viết của mỗi nhà thơ
  • Từ đó, chỉ ra tài năng và tư tưởng của họ, phần nào thấy đóng góp của mỗi nhà văn cho giai đoạn lịch sử và văn học 1945- 1975

 

YÊU CẦU CỤ THỂ: HS có thể chọn cách kết cầu bài cho phù hợp, bài  làm cần đạt được những ý chính sau:

Ý CHÍNH

ĐIỂM

  1. Quang Dũng và đoạn thơ
    1. Khái quát:
  •  Về tác giả: Nhà thơ tài hoa, lãng tử, nhân hậu, từng là thành viên của binh đoàn Tây Tiến….)
  • Về tác phẩm “Tây Tiến”: Sáng tác khi nhà thơ đã rời xa đơn vị, có tên là “Nhớ Tây Tiến” sau này tác giả đổi lại là “Tây Tiến”
  • Đoạn thơ nằm ở khổ thơ thứ hai, khổ thơ tập trung thể hiện chất nghệ sĩ trong những người chiến sĩ
    1. Phân tích đoạn thơ
  • 4 câu thơ với lối điệp cấu trúc, điệp từ, ẩn dụ…tạo nên những câu thơ giàu nhạc tính, đẹp như một bức tranh thủy mặc…
  • Bức tranh chia tay đẹp ở thiên nhiên “hung bạo và trữ tình”, hùng vĩ, thơ mộng; đẹp ở tình cảm mà người lính và đồng bào dành cho nhau; đẹp ở sự hòa quyện giữa con người với thiên nhiên…
  • Chất nghệ sĩ trong chiến sĩ

 

 

 

1,0

  1. Tố Hữu và đoạn thơ
    1. Khái quát
  • Tố Hữu: Nhà thơ Cách mạng, khuynh hướng thơ trữ tình chính trị
  • Bài thơ “Việt Bắc” ra đời gắn với một chuỗi những sự kiện lịch sử trọng đại. Đây là thời điểm cán bộ các cơ qua Trung ương chia tay đồng bào về xuôi
  • Đoạn thơ thuộc phần một của bài thơ, là lời của người ra đi ôn lại kỉ niệm, bày tỏ lòng biết ơn với những ân tình của nhân dân và mảnh đất chiến khu
    1. Phân tích cụ thể:
  • Sáu câu thơ lục bát với cách xưng hô mình- ta, lối ví von…tạo nên những câu thơ như lời đối đáp trong cuộc hát giao duyên, hát giã bạn
  • Những tình cảm cách mạng được trữ tình hóa qua lời ôn lại những kỉ niệm, tình cảm đẹp mà quân dân Việt Bắc dành cho nhau để từ đó hướng tới ngày mai thủy chung, ân tình.
  • Đoạn thơ góp phần làm nên bài thơ đỉnh cao của thơ trữ tình chính trị Tố Hữu, một thành tựu của thơ ca kháng chiến

 

 

 

 

 

 

 

 

1,0

  1. So sánh
    1. Điểm gặp gỡ: Cả hai đoạn thơ đều thể hiện nỗi nhớ và đằng sau đấy là những ân tình của chiến sĩ dành cho đồng bào, dành cho mảnh đất mà họ từng gắn bó, yêu thương
    2. Điểm khác biệt:
  • Đoạn thơ của Quang Dũng được viết bởi bút pháp thơ trữ tình, lãng mạn, tài hoa, giàu chất nhạc, chất họa. Vẻ đẹp của người lính trí thức Hà thành biết trân trọng vẻ đẹp của thiên nhiên và con người là đóng góp riêng, hiếm có
  • Đoạn thơ của Tố Hữu gắn với khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Lời thơ giàu bản sắc dân tộc, mộc mạc, gần gũi với đời sống và văn học dân gian. Nhà thơ tôn vinh tình cảm cách mạng, những tình cảm lớn lao, thiêng liêng.
  • Hai đoạn thơ nói riêng, bài thơ nói chung góp phần làm phong phú cho nền thơ ca kháng chiến

 

 

 

 

 

1,0